Ung thư chưa rõ nguyên phát là gì? Chuẩn đoán bệnh bằng những phương pháp nào?

UNG THƯ CHƯA RÕ NGUYÊN PHÁT

  1. ĐẠI CƯƠNG

Ưng thư chưa rõ nguyên phát là những khối u ác tính di căn được khẳng định bằng mô bệnh học nhưng không thể xác định được u nguyên phát khi đánh giá trước điều trị bao gồm mô học, khám lâm sàng, xét nghiệm sinh hoá, huyết học, hình ảnh và khai thác tiền sử. Những phương tiện hiện đại đã giúp ích nhiều trong chẩn đoán UNG THƯ, tìm được vị trí nguyên phát hoặc định loại được bệnh ngày càng chính xác nhưng vẫn có khoảng 5-10% số bệnh nhân được chẩn đoán là UNG THƯ chưa rõ nguyên phát. Các vị trí biểu hiện thường gặp là gan, phổi, xương và hạch. Tần xuất mắc xảy ra tương đương ở hai giới và thường ở lứa tuổi trên dưới 60.

Tham khảo danh mục thuốc điều trị ung thư 

Thuốc Sorafenat điều trị ụng thư gan

Thuốc Osicent điều trị ung thư phổi

Ngoại trừ một số trường hợp có những yếu tố tiên lượng tương đối thuận lợi, UNG THƯ chưa rõ nguyên phát thường có điểm chung là sớm lan tràn, mức độ ác tính cao và không dự tính được mô hình di căn. Do vậy, UNG THƯ chưa rõ nguyên phát có tiên lượng chung xấu với thời gian sống trung bình khoảng 6-9 tháng.

  1. CHẨN ĐOÁN

  1. Lâm sàng

  • Ung thư chưa rõ nguyên phát thường biểu hiện với các triệu chứng gây nên bởi tổn thương di căn. Nhiều bệnh nhân có các biểu hiện không đặc hiệu như chán ăn, gầy sút. Ngoài việc khai thác bệnh sử liên quan đến diễn biến của các tổn thương di căn cần hỏi đến các triệu chứng ở các cơ quan, hệ cơ quan khác có khả năng liên hệ đến u nguyên phát hoặc di căn nơi khác.
  • Khi khai thác tiền sử, lưu tâm hỏi bệnh nhân về UNG THƯ hoặc khối u trước đây hoặc trước đây đã sinh thiết, phẫu thuật (lấy u, cắt bỏ). Nếu có thể, yêu cầu tìm lại tiêu bản hoặc khối nến cũ.
  • Hỏi về các tổn thương tự nhiên mất đi.
  • Hỏi và xem các xét nghiệm đã làm trước đó, đặc biệt là các chẩn đoán hình ảnh.
  • Cần khám toàn diện, không bỏ sót khám sinh dục, thăm trực tràng.

–           Có khoảng hơn 50% bệnh nhân có biểu hiện ở nhiều vị trí. 

  1.             Cận lâm sàng

Bệnh cảnh của UNG THƯ chưa rõ nguyên phát đa dạng, tuỳ tình huống lâm sàng, điều kiện trang thiết bị cụ thể mà sử dụng các phương pháp chẩn đoán, xét nghiệm khác nhau. Sau đây là những gợi ý:

  • Chụp X-quang ngực
  • Siêu âm ổ bụng
  • Chụp cắt lớp các vùng khả nghi, đặc biệt là các vùng lân cận của tổn thương ác tính phát hiện được.
  • Xét nghiệm công thức máu toàn bộ
  • Chức năng gan
  • Creatinin

–          Điện giải đồ

–          Phân tích nước tiểu

–          Tìm máu ẩn trong phân.

–          Nội soi các cơ quan, bộ phận nghi ngờ, đặc biệt khi có triệu chứng chỉ điểm.

–          Làm PET scan nếu có điều kiện

–          Tế bào học: các nơi bệnh biểu hiện, các tổn thương nghi ngờ.

–          Sinh thiết và chẩn đoán mô bệnh học: có thể sinh thiết kim có nòng, sinh thiết cắt hoặc sinh thiết lấy toàn bộ tổn thương.

–          Nhuộm bệnh phẩm sinh thiết bằng các phương pháp đặc biệt (như thyroglobulin…) khi cần.

–          Nhuộm hoá mô miễn dịch bệnh phẩm sinh thiết khi cần như phân biệt giữa UNG THƯ biểu mô kém biệt hóa với u lymphô, xem tình trạng ER, PR, HER-2/neu, nhận định u hắc tố ác tính.

–          Chẩn đoán mô bệnh học đóng vai trò quan trọng, đôi khi nhà giải phẫu bệnh yêu cầu lấy thêm bệnh phẩm, hội chẩn các chuyên gia.

–          Chẩn đoán di truyền học phân tử: phân tích PCR xem sự khuyếch đại gen của ví rút Epstain-Barr khi nghi ngờ UNG THƯ vòm.

  1. Tìm ổ nguyên phát và đánh giá mức độ lan tràn

Khi có chẩn đoán mô bệnh học, một số loại bệnh đã có thể được xác định như: UNG THƯ tuyến giáp, UNG THƯ tổ chức liên kết (sacôm), u hắc tố, u lymphô và các bệnh ác tính của máu và u tế bào mầm. Việc đánh giá tiếp theo có thể tham khảo trong các bài viết về các bệnh này.

Đối với phần lớn các trường hợp còn lại, tùy theo thể mô bệnh học và vị trí biểu hiện cần đánh giá tiếp trên lâm sàng và cận lâm sàng như sau.

Đối với ung thư biểu mô tuyến hoặc ung thư biểu mô nói chung (không đặc trưng)

  • Biểu hiện tại hạch cổ
  • Khám kỹ vùng đầu cổ, lưu ý da, tuyến giáp.

–          Chụp cắt lớp có thuốc đối quang hoặc chụp cộng hưởng từ đầu cổ. Chụp cắt lớp ngực/bụng/chậu hông đối với hạch cổ thấp

–          Nội soi vòm, hạ họng thanh quản. Đối với hạch cổ thấp, xem xét nội soi phế quản, thực quản nếu nghi ngờ.

  • Biểu hiện tại hạch thương đòn
  • Đối với cả hai giới: chụp cắt lớp ngực/bụng/chậu hông, nội soi cơ quan bộ phận nghi ngờ.

–          Đối với nam: tuổi > 40 nên xét nghiệm PSA, tuổi < 50 có thể siêu âm tinh hoàn.

  • Đối với nữ: chụp X-quang tuyến vú, nhuộm hoá mô miễn dịch bệnh phẩm xem tình trạng ER, PR, HER-2/neu.
  • Biểu hiện tại hạch nách
  • Đối với cả hai giới: chụp cắt lớp ngực/bụng.

–          Đối với nam: tuổi > 40 nên xét nghiệm PSA

–          Đối với nữ: chụp X-quang tuyến vú, nếu kết quả âm tính nên siêu âm tuyến vú (hoặc chụp cộng hưởng từ tuyến vú nếu có điều kiện). Nhuộm hoá mô miễn dịch bệnh phẩm xem tình trạng ER, PR, HER-2/neu.

  • Biểu hiện tại trung thất
  • Đối với cả hai giới: chụp cắt lớp ngực/bụng/chậu hông, xét nghiệm ß- HCG, AFP.

–          Đối với nam: tuổi > 40 nên xét nghiệm PSA, tuổi <50 có thể siêu âm tinh hoàn.

–          Đối với nữ: chụp X-quang tuyến vú, nếu kết quả âm tính nên siêu âm tuyến vú (hoặc chụp cộng hưởng từ tuyến vú nếu có điều kiện). Nhuộm hoá mô miễn dịch bệnh phẩm xem tình trạng ER, PR, HER-2/neu.

  • Di căn phổi hoặc tràn dịch màng phổi
  • Đối với cả hai giới: chụp cắt lớp ngực/bụng/chậu hông

–          Đối với nam: tuổi > 40 nên xét nghiệm PSA

–          Đối với nữ: chụp X-quang tuyến vú, nếu kết quả âm tính nên siêu âm tuyến vú (hoặc chụp cộng hưởng từ tuyến vú nếu có điểu kiện). Nhuộm hoá mô miễn dịch bệnh phẩm xem tình trạng ER, PR. Xét nghiệm CA125, khám phụ khoa.

  • Di căn phúc mạc
  • Đối với cả hai giới: chụp cắt lớp bụng/chậu hông, xem xét chụp cắt lớp ngực, làm tế bào học nước tiểu, soi bàng quang nếu nghi ngờ.

–          Đối với nam: tuổi >40 nên xét nghiệm PSA

–          Đối với nữ: xét nghiệm CA125, khám phụ khoa, chụp X-quang tuyến vú, nếu kết quả âm tính nên siêu âm tuyến vú (hoặc chụp cộng hưởng từ tuyến vú nếu có điểu kiện). Nhuộm hoá mô miễn dịch bệnh phẩm xem tình trạng ER, PR.

  • Khối sau phúc mạc
  • Đối với cả hai giới: chụp cắt lớp bụng/chậu hông, xem xét chụp cắt lớp ngực, làm tế bào học nước tiểu, soi bàng quang nếu nghi ngờ, nội soi cơ quan bộ phận nghi ngờ.

–          Đối với nữ: xét nghiệm CA125, khám phụ khoa, chụp X-quang tuyến vú, nếu kết quả âm tính nên siêu âm tuyến vú (hoặc chụp cộng hưởng từ tuyến vú nếu có điều kiện). Nhuộm hoá mô miễn dịch bệnh phẩm xem tình trạng ER, PR.

–          Đối với nam: tuổi >40 nên xét nghiệm PSA, tuổi < 65 nên xét nghiệm ß- HCG, AFP, siêu âm tinh hoàn.

  • Biểu hiện tại hạch hẹn
  • Đối với cả hai giới: chụp cắt lớp bụng và chậu hông.

–          Đối với nữ: xét nghiệm CA125, khám phụ khoa.

–          Đối với nam: tuổi >40 nên xét nghiệm PSA.

    • Biểu hiện tại gan
  • Đối với cả hai giới: chụp cắt lớp bụng và chậu hông, xem xét chụp cắt lớp ngực, nội soi đại tràng, xem xét nội soi cơ quan bộ phận nghi ngờ khác, xét nghiệm AFP.

–          Đối với nữ: chụp X-quang tuyến vú, nhuộm hoá mô miễn dịch bệnh phẩm xem tình trạng ER, PR.

    • Biểu hiện tại xương
  • Đối với cả hai giới: xạ hình xương, chụp X-quang các vị trí đau và các vị trí nghi ngờ trên xạ hình xương.

–          Đối với nữ: chụp X-quang tuyến vú, nhuộm hoá mô miễn dịch bệnh phẩm xem tình trạng ER, PR. 

  • Đối với nam: nên xét nghiệm PSA.
  • Biểu hiện tại não
  • Đối với cả hai giới: chụp cắt lớp ngực/bụng/chậu hông và các xét nghiệm cần thiết khác.
  • Đối với nữ: chụp X-quang tuyến vú, nhuộm hoá mô miễn dịch bệnh phẩm xem tình trạng ER, PR.
    • Biểu hiện ở da và các vị trí khác
  • Đối với nữ: chụp X-quang tuyến vú, nhuộm hoá mô miễn dịch bệnh phẩm xem tình trạng ER, PR.

–          Đối với nam: nên xét nghiệm PSA.

Đối với ung thư biểu mô vảy

    • Biểu hiện tại hạch đầu cổ: như ung thư biểu mô tuyến và ung thư biểu mô nói chung.
    • Biểu hiện tại hạch thượng đòn
  • Kiểm tra kỹ vùng đầu cổ (lâm sàng, nội soi, chẩn đoán hình ảnh)

–          Chụp cắt lớp ngực và bụng.

–          Nội soi cơ quan bộ phận nghi ngờ.

    • Biểu hiện tại hạch nách
  • Chụp cắt lớp ngực
    • Biểu hiện tại hạch bẹn
  • Chụp cắt lớp bụng và chậu hông

–          Khám kỹ tầng sinh môn, hậu môn và chi dưới, làm tế bào học nước tiểu, soi bàng quang nếu nghi ngờ.

–          Đối với nam cần kiểm tra dương vật, bìu.

–          Đối với nữ cần khám phụ khoa toàn diện.

    • Biểu hiện tại xương

–          Xạ hình xương, chụp X-quang các vị trí đau và các vị trí nghi ngờ trên xạ hình xương.

Đối với u thần kinh nội tiết

–           Xác định được loại mô bệnh học đặc trưng (như carcinoid, tế bào tiểu đảo, pheochromcytoma…): chụp cắt lớp, các xét nghiệm đo nồng độ chất nội tiết, thăm dò chức năng nội tiết, xét nghiệm chất chỉ điểm tùy theo loại u.

  • Không xác định được loại mô bệnh học đặc trưng: chụp cắt lớp ngực/bụng/chậu hông, xạ hình xương, nếu có điều kiện có thể xem xét chụp octreotid scan, chụp PET.

Ngoài các loại mô bệnh học nói trên, cũng có thể gặp u hắc tố ác tính, các saccôm.           

Công việc tìm ổ nguyên phát thường khó khăn, các xét nghiệm cũng khá tốn kém. Một số trường hợp bệnh phát triển nhanh có thể phải điều trị sớm và công việc chẩn đoán vẫn tiếp tục trong khi điều trị. Điều quan trọng là phải loại trừ được các bệnh tiên lượng khá tốt như UNG THƯ tuyến giáp, vú, tiền liệt tuyến, buồng trứng, tế bào mầm, u lymphô… bởi các bệnh này khi được điều trị bằng phương pháp hợp lý sẽ có thời gian sống lâu hơn UNG THƯ chưa rõ nguyên phát.

Tác giả bài viết: Dược Sĩ Đỗ Thế Nghĩa, Đại Học Dược Hà Nội, CEO: Mua Thuốc 24h

Tham khảo thêm

Điều trị ung thư bằng kháng thể đơn dòng gắn với độc tố, độc tính của phương pháp

U LÁ NUÔI THỜI KỲ THAI NGHÉN LÀ GÌ? CHUẨN ĐOÁN VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *