Điều trị ung thư bằng kháng thể đơn dòng gắn với độc tố, độc tính của phương pháp

Kháng thể đơn dòng gắn với độc tố

Phương pháp còn được gọi là gây độc miễn dịch trong đó sử dụng các độc tố (chiết xuất từ cây cỏ hoặc vi khuẩn) gắn với kháng thể đơn dòng. Các độc tố miễn dịch đã cho thấy chúng có khả năng làm thu nhỏ khối u đặc biệt là các u lymphô ác tính. Mặc dù đã có các thử nghiệm trên các loại độc tố miễn dịch khác nhau nhưng hiện mới chỉ có gemtuzumab ozogamicin (Mylotarg) được FDA chấp thuận trong điều trị. Phức hợp này bao gồm một độc tố có tên calicheamicin được gắn với kháng thể đơn dòng chống CD33, một kháng nguyên trên các tế bào non ở 80% trường hợp bệnh bạch cầu tủy cấp. Mylotarg được sử dụng để điều trị bệnh bạch cầu tủy cấp tái phát, có CD33 dương tính ở người trên 60 tuổi hoặc không thể hóa trị. Một độc tô miễn dịch khác là BL22 cũng đang được nghiên cứu và tỏ ra có triển vọng trong điều trị bệnh bạch cầu tế bào tóc.

Các chất ức chế tyrosin kinase

Gần đây, các nhà khoa học trên thế giới đi sâu vào nghiên cứu các chất ức chế tyrosine kinase. Imatinib mesylate (Gleevec), một chất ức chế tyrosin kinase Bcr-Abl, sản phẩm lai ghép chủ yếu sinh ra từ nhiễm sắc thể Philadelphia trong bệnh bạch cầu tủy mạn. Bcr-Abl cũng bộc lộ quá mức ở các khối u đệm của đường tiêu hoá. Imatinib đã được thử nghiệm rất thành công trong điều trị bệnh bạch cầu tủy mạn. Thuốc không những gây lui bệnh về huyết học mà còn cho tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn về di truyền học tế bào rất cao.

Các tyrosin kinase có trên các thụ thể yếu tố phát triển biểu bì (EGFR) cũng đã được phát hiện và ứng dụng trong điều trị UNG THƯ. Như phần kháng thể đơn dòng đã  đề cập, EGFR có biểu hiện ở một số loại tế bào u và đóng vai trò quan trọng trong sự tăng sinh của các tế bào này. Hai thuốc hiện được sử dụng là gefinitib (Iressa), erlonitib (Tarceva) với tác dụng ức chế men tyrosin kinase làm ngăn chặn EGFR truyền tín hiệu đến nhân tế bào. Đối với UNG THƯ phổi đã kháng với điều trị, tỷ lệ đáp ứng của gefinitib là 11% và erlonitib là 13%.

Một thuốc có khả năng ức chế tyrosin kinase của cả yếu tố phát triển nội mạc mạch máu (VEGF) và của EGFR là vandetanib (Zactima). Với khả năng ức chế VEGF qua tyrosin kinase, thuốc có khả năng chống tăng sinh mạch máu tại khối u, làm khối u thoái triển. Với tác dụng trên EGFR, vandetanib cũng có thêm cơ chế tác dụng tương tự gefinitiberlonitib.

 Các độc tính của điều trị sinh học

Nói chung các độc tính của thuốc sinh học có thể biết trước liên quan với liều và liệu trình. Dùng interferon theo liệu trình hàng ngày có thể sẽ xuất hiện các triệu chứng toàn thân như sốt, mệt mỏi, đau cơ. Các thuốc chống viêm không phải steroid và acetaminophen có tác dụng làm giảm các triệu chứng này. Độc tính của IL-2 phụ thuộc liều điều trị. Cho dù bệnh nhân được chọn lọc kĩ để điều trị IL-2 liều cao, các biến chứng về tim mạch bao gồm hạ huyết áp và hội chứng rò mao mạch vẫn có thể xảy ra. Các biểu hiện lâm sàng bao gồm giảm albumin huyết thanh, tăng cân và xuất hiện phù ngoại vi khi truyền dịch để nâng huyết áp. Sự quá tải về dịch có thể làm hại đến phổi. Các biến chứng khác về tim của IL-2 liều cao bao gồm các loạn nhịp, chủ yếu tâm thất và nhồi máu cơ tim. Biến chứng sau phần lớn tránh được nếu sàng lọc các bệnh nhân vốn bị thiếu máu cơ tim.

Các bệnh nhân đang điều trị IL-2 xuất hiện ban đỏ đặc trưng sau có thể chuyển thành tróc vảy da. IL-2 cũng có thể làm nặng thêm bệnh vảy nến có từ trước và có liên quan nhưng hiếm với sự xuất hiện hội chứng giống PemphigUng thư. Bệnh nhân đang điều trị IL-2 cũng bị giảm ngon miệng và có thể xuất hiện buồn nôn và thi thoảng có ỉa chảy. Suy giáp cũng được mô tả là liên quan với điều trị IL-2 và hiếm khi liên quan với interferon, cần tạm ngừng điều trị IL-2 khi xuất hiện các thay đổi về thần kinh tâm thần như nhầm lẫn. Cũng như các tác dụng phụ khác của IL-2, rối loạn này có khả năng hồi phục nhưng sẽ vẫn còn kéo dài một thời gian sau khi ngừng thuốc.

Các corticosteroid ngăn ngừa hoặc giảm hầu hết các tác dụng phụ liên quan với IL-2, có lẽ bởi ngăn chặn việc phóng thích các cytokin do IL-2 kích thích như TNF và IFN-y. Vì vậy corticosteroid có thể làm giảm tác dụng chống u của IL-2 và chỉ sử dụng trong các tình huống thật cần thiết.

Dùng kháng thể đơn dòng liên quan với hạ huyết áp và thở nông. Nguy cơ phản vệ lớn hơn khi dừng lặp lại nên đã dẫn đến việc thử test tĩnh mạch thận trọng với epinephrin, các steroid và các thuốc kháng histamin sẵn có trong tay.

Tham khảo thêm bài viết:

Mặt lợi và mặt hại khi lấy cao răng. Có nên lấy cao răng?

Các nhóm thuốc điều trị ung thư thuốc đích điều trị ung thư

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *